Một số nội dung cần quan tâm chỉ đạo và triển khai thực hiện của ngành Giáo dục trong thời gian đến.

    Trong 02 ngày 17 và 18/4/2018, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ GDĐT Phùng Xuân Nhạ đã chủ trì Hội nghị với sự tham dự của Giám đốc và Chánh Văn phòng của 63 Sở GDĐT để quán triệt tổ chức thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm của ngành trong thời gian đến, đó là: Kỳ thi THPT quốc gia năm 2018, triển khai việc thực hiện chương trình sách giáo khoa mới và bàn giải pháp về văn hóa ứng xử trong trường học.

HNbo1

1. Đối với Kỳ thi THPT quốc gia năm 2018

     Kỳ thi THPT quốc gia năm 2018 tiếp tục phát huy những thành công đã đạt được trong ba năm qua, chỉ có một số điều chỉnh về mặt kỹ thuật theo hướng ngày càng tinh gọn, thiết thực, hiệu quả để áp dụng ổn định cho những năm đến. Kỳ thi sẽ được tổ chức từ ngày 24/6 đến ngày 27/6/2018, tại tất cả các tỉnh, thành trong cả nước. Mỗi tỉnh có một cụm thi do Sở GDĐT chủ trì phối hợp với các trường đại học do Bộ GDĐT điều động. (Tại Quảng Nam, thuộc Cụm thi số 34, do Sở GDĐT phối hợp với các Trường ĐH: Trường Đại học Kinh tế -Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng, Trường Đại học Quảng Nam, Trường Đại học Đông Á, Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Đà Nẵng và Trường Đại học Nội vụ phối hợp tổ chức; hơn 19 ngàn thí sinh đăng ký dự thi, bố trí ở 57 điểm thi với 808 phòng thi). Tại Hội nghị, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ yêu cầu các địa phương phải chỉ đạo tổ chức tốt việc ôn tập, chuẩn bị tâm thế cho học sinh dự thi đạt kết quả tốt nhất; quán triệt các đơn vị không được chủ quan trong quá trình tổ chức kỳ thi; phải chuẩn bị kỹ phương án sao in, bảo quản đề thi; sử dụng phần mền trong việc sắp xếp, bố trí phòng thi; phối hợp tốt với các trường đại học để tổ chức coi thi, chấm thi; làm phách bài thi, tổ chức chấm thi đúng quy trình ; việc niêm phong bài thi phải có chữ ký của Phó trưởng điểm thi là của trường Đại học; chủ động rà soát phương án dự phòng để tránh sự cố bất thường. Đặc biệt lứu ý các đơn vị phải tập huấn kỹ về nghiệp vụ quy chế cho thầy cô giáo làm công tác thi; quán triệt nội quy kỳ thi cho thí sinh; phối hợp với Công an địa phương để ngăn chặn kịp thời tình trạng sử dụng công nghệ cao để gian lận trong thi cử; tuyệt đối không để bất cứ sai sót nào làm ảnh hưởng đến kỳ thi.

2. Về Chương trình, sách giáo khoa mới

      Tính đến nay, Bộ GDĐT đã tổ chức lấy ý kiến rộng rãi để góp ý cho dự thảo chương trình môn học, đã có 300 ý kiến góp ý của các tổ chức cá nhân, đồng thời có khoảng 500 ý kiến góp ý dưới dạng bài viết của một số tờ báo lớn. Nhìn chung các ý kiến thống nhất rằng dự thảo chương trình môn học phù hợp với quy định của pháp luật, không có định kiến về giới, sắc tộc, tôn giáo, nghề nghiệp; mục tiêu chương trình môn học đã cụ thể hóa được mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông, phù hợp với đặc thù môn học và xác định được yêu cầu về phẩm chất và năng lực cốt lõi của học sinh ở mỗi cấp học, bên cạnh đó, cũng còn các ý kiến băn khoăn, phản biện, hoặc đề nghị làm rõ.... Thời gian qua, Bộ cũng đã tổ chức thực nghiệm chương trình môn học tại 48 trường phổ thông thuộc 6 tỉnh, thành; mỗi tỉnh tiến hành thực nghiệm tại 03 trường TH, 03 trường THCS và 02 trường THPT đại diện cho các vùng miền khác nhau. Trong thời gian tới, toàn ngành triển khai thực hiện nhiệm vụ, giải pháp sau:

     a) Hoàn thiện dự thảo chương trình môn học trên cơ sở góp ý và kết quả thực nghiệm, Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình GDPT tiến hành thẩm định; ban hành Chương trình GDPT tổng thể và chương trình các môn học.

     b) Bộ GDĐT tổ chức việc biên soạn tài liệu hướng dẫn biên soạn SGK theo chương trình GDPT mới, tổ chức tập huấn cho người tham gia biên soạn và thẩm định SGK mới; chỉ đạo biên soạn sách giáo khoa theo chương trình GDPT mới đáp ứng theo lộ trình thực hiện.

    c) Căn cứ CT GDPT mới và quy định về tiêu chuẩn, quy trình biên soạn và tiêu chuẩn các cá nhân biên soạn SGK được quy định tại Thông tư số 33/2017/TT-BGDĐT, các tổ chức, cá nhân tiến hành biên soạn SGK; căn cứ quy định về tiêu chuẩn SGK, Hội đồng quốc gia thẩm định tiến hành thẩm định SGK từng môn học (Gồm một bộ SGK do Bộ GDĐT tổ chức việc biên soạn và các SGK khác do các tổ chức, cá nhân biên soạn); Bộ GDĐT phê duyệt, cho phép sử dụng SGK. Trên cơ sở hướng dẫn của Bộ, các tỉnh thành phố tổ chức biên soạn, thẩm định tài liệu giáo dục của địa phương, trình Bộ GDĐT phê duyệt.

     d) Chuẩn bị đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý thực hiện CT, SGK GDPT mới:

Ban hành chuẩn, tiêu chuẩn giáo viên giảng viên và CBQL; ban hành chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên; tổ chức biên soạn tài liệu hướng dẫn dạy học các môn học và hoạt động giáo dục theo CT GDPT mới; xây dựng và triển khai hệ thống bồi dưỡng giáo viên qua mạng trên phạm vi cả nước.

      đ) Tiếp tục chuẩn bị cơ sở vật chất để thực hiện CT, SGK GDPT mới

Sau khi Thủ tướng ban hành Đề án bảo đảm cơ sở vật chất cho CT giáo dục mầm non và GDPT, tổ chức rà soát, điều chỉnh các chuẩn, quy chuẩn về trường lớp cho phù hợp với CT GDPT mới; hướng dẫn các địa phương mua sắm bàn ghế phù hợp với lứa tuổi học sinh. Bộ GDĐT giao cho các sở chỉ đạo các cơ sở giáo dục phổ thông tiến hành điều chỉnh, bố trí, sắp xếp nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu CT, SGK GDPT mới.

     e) Lộ trình thực hiện Chương trình, SGK GDPT mới theo tuần tự trong từng cấp học, từ năm học 2019-2020 đối với lớp đầu cấp của cấp tiểu học, từ năm học 2020-2021 đối với lớp đầu cấp của cấp trung học cơ sở và từ năm học 2021-2022 đối với lớp đầu cấp của cấp trung học phổ thông. Cụ thể:

-Năm học 2019-2020: Lớp 1;

- Năm học 2020-2021: Lớp 2 và lớp 6;

- Năm học 2021-2022: Lớp 3, lớp 7 và lớp 10;

- Năm học 2022- 2023: Lớp 4, lớp 8 và lớp 11;

- Năm học 2023-2024: Lớp 5, lớp 9 và lớp 12.

  3. Tình hình văn hóa ứng xử trong trường học

        Hội nghị đã tập trung đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và bàn giải pháp khắc phục một số hạn chế về tình hình văn hóa ứng xử trong trường học. Một số sự việc xảy ra trong thời gian gần đây, tuy là hiện tượng cá biệt nhưng nó đã làm ảnh hưởng đến môi trường giáo dục cần phải chấn chỉnh. Tình trạng một bộ phận học sinh có biểu hiện suy thoái, lệch lạc về phẩm chất đạo đức, lối sống như: thiếu trung thực, thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình, nhà trường; đáng ngại nhất là tình trạng bạo lực học đường vẫn diễn ra; hiện tượng thờ ơ, vô cảm, thấy đúng không bảo vệ thấy sai trái, tiêu cực không dám đấu tranh, thấy đánh nhau không can ngăn mà còn quay video đưa lên mạng như là một sự cổ súy cho hành vi bạo lực. Một số cán bộ, nhà giáo nhân viên trong các cơ sở giáo dục thiếu chuẩn mực trong ứng xử, còn vi phạm đạo đức nhà giáo; một bộ phận nhà giáo nhận thực chưa đầy đủ về vị trí, vài trò trách nhiệm cá nhân trong việc giáo dục thế hệ trẻ, thiếu ý thức trong tự vươn lên, khả năng tự học, cập nhật thông tin, trau dồi kiến thức còn hạn chế; lối sống thực dụng, thiếu gương mẫu. Một bộ phận cán bộ quản lý còn có biểu hiện tiêu cực, độc đoán, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, gây mất dân chủ nghiêm trọng ...đã làm ảnh hưởng hình ảnh cao đẹp của nhà giáo và niềm tin của xã hội.

    Nhận diện được nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến sự việc nêu trên để tìm giải pháp khắc phục là việc làm hết sức cần thiết. Trong quá trình đổi mới và phát triển của đất nước, môi trường kinh tế, xã hội đã có những thay đổi đáng kể nên tác động đến môi trường văn hóa trong nhà trường. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm thay đổi lối sống văn hóa ứng xử, học sinh có thể tiếp xúc thông tin xuyên tạc, độc hại mang tính bạo lực, đồi trụy kích thích lối sống thực dụng, buông thả từ đó dẫn đến hành vi vi phạm. Mối quan hệ gia đình, nhà trường và xã hội trong quản lý, giáo dục, giúp đỡ học sinh chưa hiệu quả, thiếu sự quan tâm chỉ đạo, sự đồng hành, hợp tác, cộng đồng trách nhiệm. Chế độ đãi ngộ, áp lực công việc cũng là nguyên nhân dẫn đến một bộ phận giáo viên chưa toàn tâm, toàn ý tới công việc giảng dạy và chăm sóc giáo dục đạo đức, lối sống văn hóa cho người học. Về nguyên nhân chủ quan, công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, ý thức chấp hành pháp luật, chấp hành quy chế, nội quy cho giáo viên và học sinh chưa thường xuyên và hiệu quả chưa cao. Một số giáo viên hạn chế về kỹ năng sư phạm, lúng túng trong xử lý các tình huống dạy học; thiếu kỹ năng tạo lập quan hệ xã hội; có một số giáo viên thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc, dẫn đến hành vi phản cảm, thiếu chuẩn mực trong ứng xử, cá biệt có trường hợp vi phạm đạo đức nhà giáo. Nhiều mâu thuẩn trong học sinh chưa được nắm bắt và tư vấn giải quyết kịp thời; học sinh chưa nhận thức đầy đủ về văn hóa ứng xử trong trường học. Công tác quản lý ở một số trường học còn bất cập; người đứng đầu chưa sâu sát, trách nhiệm chưa cao, thiếu dân chủ; chưa huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong công tác bảo đảm an ninh trật tự, an toàn trường học và phòng, chống bạo lực học đường.

    Trên cơ sở xác định những nguyên nhân chính, Hội nghị đã bàn một số giải pháp nhiệm vụ phải triển khai thực hiện trong thời gian đến, đó là: Xây dựng và thực hiện bộ quy tắc ứng xử văn hóa trong trường học; tuyên truyền nâng cao nhận thức về xây dựng văn hóa ứng xử; nâng cao năng lực ứng xử văn hóa và năng lực giáo dục văn hóa ứng xử; tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các cấp, các ngành, chính quyền địa phương; tăng cường kiểm tra giám sát và xử lý nghiêm về bạo lực học đường./.

Tin và ảnh: Hồ Văn Hưng - VPS

quangnam.edu.vn